Download!Download Point responsive WP Theme for FREE!

Những Bệnh Tâm Thần Ảnh Hưởng Tình Cảm

Date: Thursday, March 13 @ 10:54:18 EDT
Topic: Sức Khoẻ

Thái Minh Trung, M.D.

Bệnh xáo trộn về tình cảm có thể chia làm 3 loại: (1) buồn nản hay trầm cảm (major depression), (2) chu kỳ vui-buồn quá độ hay tình cảm lưỡng cực (manic depressive disorder) và (3) lo âu (anxiety disorder).

Bệnh buồn nản

Định Nghĩa: Bệnh này do sự xáo trộn của chất Norepinephrine và chất Serotonin ở não bộ. Phụ nữ bị bệnh này gấp hai lần nam giới, hơn phân nửa bị bệnh này vào lứa tuổi 20 tới 50. Tuy nhiên tất cả mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh này, và 1/4 trường hợp xảy ra khi bệnh nhân gặp biến cố trong cuộc sống (mất sở, ly dị, người thân mất…). 3/4 trường hợp bệnh tự nhiên xảy ra, không có lý do chính đáng. Bệnh có tính chất di truyền. Khoảng chừng 10% dân số bị bệnh này. Ở những quốc gia có đời sống khó khăn, con số này có thể cao hơn nhiều.

Triệu chứng của bệnh này là mất thú vui trong cuộc sống (ahedonia), xáo trộn giấc ngủ (mất ngủ hay ngủ lu bù) và xáo trộn khẩu vị (biếng ăn), mệt mỏi trong người, chậm chạp trong suy nghĩ và hành động. Bệnh nhân còn có những suy nghĩ tự ti, mặc cảm tội lỗi và thậm chí có những suy nghĩ muốn tự tử. Nam giới thì có triệu chứng bực tức nhiều hơn là buồn nản. Từ đó dễ sanh ra lạm dụng rượu và bạo động gia đình. Rượu và trầm cảm là 2 mối nguy lớn dẫn đến bạo động gia đình. Ở người Á châu, triệu chứng bệnh buồn nản thường biểu hiện ở cảm giác đau toàn thân mặc dù đi khám nhiều bác sĩ mà không tìm ra nguyên nhân. Nhiều bác sĩ hiểu lầm tưởng bệnh nhân giả bộ bệnh và gán cho bệnh nhân cái tên là bệnh tưởng tượng gây ra sự hoang mang cho bệnh nhân.

Thí dụ:

Cô B, một phụ nữ Á châu, 28 tuổi, hơn 2 tuần nay cô cảm thấy sa sút trong việc làm. Cô là một nhân viên kế toán giỏi của ngân hàng. Cô đã ly dị với chồng gần một tháng nay. Thời gian đầu cô có thể chống cự lại nỗi buồn và ở lại sở làm thêm giờ. Hai tuần nay cô ngủ không ngon giấc, sáng dậy cảm thấy mệt mỏi trong người. Cô không tha thiết trong công việc làm đẹp người như trước nữa (không trang điểm, quần áo không ủi…). Trong sở, cô không thể tập trung tư tưởng vào những con số. Hồ sơ bị ối đọng và chồng chất trên bàn. Cô trở nên cau có, gây sự bực dọc cho đồng nghiệp. Về nhà cô không còn sức dọn dẹp nhà cửa; bạn bè gọi, cô không muốn nhấc điện thoại lên và nhiều khi bỏ ăn cơm tối. Những tư tưởng tự ti cứ lẩn quẩn trong đầu cô như bầy muỗi đói. Đôi lúc cô muốn kết liễu cuộc đời vì cô mất hết niềm hy vọng. Cô xin nghỉ việc và nguyên ngày chui rúc trong phòng. Cô ngày càng ốm đi, với nhiều cơn nhức đầu, đau ngực và nhức mỏi. Gia đình lo âu nên dẫn cô đi khám bác sĩ.

Lần đầu tiên đi khám bác sĩ gia đình, cô B bị mặc cảm và ngần ngại không nói cho bác sĩ biết hoàn cảnh gia đình và những triệu chứng buồn nản của cô. Trong 15 phút gặp mặt và khai bệnh với bác sĩ gia đình, cô B chỉ khai những cơn nhức đầu, đau ngực và nhức mỏi. Bác sĩ cho thuốc và cho cô B đi thử nghiệm máu và tim. Mọi kết quả đều bình thường. Cô B uống thuốc giảm đau mà không hết bệnh. Lần sau, bác sĩ hỏi kỹ hơn và chẩn bệnh buồn nản và giới thiệu cô cho bác sĩ tâm thần (psychiatrist) để điều trị.

Cách chữa trị:

Cách chữa trị hữu hiệu nhứt của bệnh buồn nản là dùng thuốc điều hòa các chất hóa học kể trên của não bộ kèm với tâm lý trị liệu. Hiện nay có rất nhiều nhóm thuốc trị bệnh buồn nản. Nhóm Tricyclic Antidepressant gọi tắt là TCA (thí dụ như Amitriptyline) là nhóm thuốc ra đời khoảng thập niên 60-70. Phản ứng phụ của nhóm này là có thể làm giảm áp huyết nên bệnh nhân, nhứt là người lớn tuổi hay bị chóng mặt nếu dùng liều lượng cao, ngoài ra còn làm khô miệng.

Nhóm mới hơn là nhóm SSRI (Serotonin Reuptake Inhibitor) chuyên về ổn định chất Serotonin (thí dụ như Fluoxetine, Paroxetine, Sertraline, Citalopram). Gần đây hơn có loại thuốc mới làm ổn định chất Serotonin lẫn Norepinephrine gọi là SNRI (Serotonin Norepinephrine Reuptake Inhibitor) như là Venlafaxine hay Duloxetine. Nhóm này có khả năng trị trầm cảm và đau nhức. Nhóm thuốc SSRI có phản ứng phụ ảnh hưởng đường ruột (làm xót ruột, nên uống thuốc sau bữa ăn) và sinh lý (giảm ham muốn, mất cường dương). Thông thường phản ứng phụ giảm dần sau một thời gian uống thuốc liên tục. Khi bệnh nhân khá hơn, giảm liều thuốc có thể làm giảm phản ứng phụ.

Bệnh trầm cảm dễ đưa đến tâm trạng mất hết hy vọng và suy sụp tinh thần. Bệnh nhân thường có những tư tưởng bi quan không muốn sống. Khi mới cho thuốc bác sĩ nên thận trọng vì đôi khi phản ứng phụ làm bệnh nhân khó chịu đưa đến ý muốn tự vận. Đôi lúc bệnh nhân mang sẵn ý định tự vận nhưng khi bị trầm cảm nặng họ không có nghị lực thực hiện hành động đó đến khi bệnh khá hơn họ đủ sức thực hiện hành động tự tử. Vì thế bệnh này phải cần được theo dõi kỹ. Cũng vì lý do này, trị liệu tâm lý nên đi đôi với điều trị bằng thuốc men.

Bệnh nhân phải uống thuốc bao lâu? Những nhóm thuốc trị về bệnh buồn nản không có hiệu quả tức thời mà bắt đầu hiệu nghiệm sau 3-4 tuần. Nhiều bệnh nhân hiểu lầm uống thuốc trong thời gian vài ngày thấy không bớt nên bỏ thuốc. Nếu lần đầu tiên bị bệnh thì bệnh nhân phải uống thuốc trong vòng 6 tháng để tránh bệnh tái phát . Nếu sau khi bỏ thuốc sau 6 tháng mà bệnh tái phát thì phải uống thuốc dài hạn. Sau khi bệnh được điều trị thì bệnh nhân có thể uống thuốc liều thấp hơn để giữ cho bệnh đừng tái phát và tránh phản ứng phụ.

Trong những tháng đầu mới bị bệnh thì tâm lý trị liệu rất cần thiết để giúp bệnh nhân phục hồi tư tưởng lành mạnh. Ngoài ra tâm lý trị liệu còn giúp bệnh nhân nói ra những bứt rứt dồn nén trong tâm tư. Khi những sự dồn nén được phát biểu thì bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Thí dụ có nhiều bệnh nhân không khóc được và sau khi sự dồn nén được giải tỏa thì họ có thể khóc nức nở và sau đó cảm thấy dễ chịu hơn. Có nhiều trường hợp bệnh nhân dùng đủ loại thuốc mà không hết bệnh phải nhờ tâm lý trị liệu mới giảm bệnh.

Tóm lại:

– Bệnh buồn nản do sự xáo trộn của các chất hóa học trong não bộ và những triệu chứng của bệnh này ngoài ý muốn của bệnh nhân. Bệnh nhân không phải lười biếng hoặc không chịu cố gắng.

– Ở những người Á châu, bệnh này hay kèm theo những triệu chứng mệt mỏi đau nhức mà không có nguyên nhân căn cứ trên cơ thể. Đây không phải là bệnh tưởng tượng vì bệnh nhân đau đớn thật sự.

– Thuốc trị bệnh buồn nản không có hiệu nghiệm nhất thời, cần phải dùng liên tục trong 3-4 tuần mới bắt đầu thấy hiệu nghiệm. Uống không liên tục sẽ bị phản ứng phụ nhiều hơn.

– Cách trị liệu hữu hiệu nhứt là phối hợp thuốc men với tâm lý trị liệu. Đôi khi uống thuốc không thôi, không dứt bệnh.

– Thống kê cho biết thời gian đang bình phục có nhiều vụ tự tử xảy ra vì bệnh nhân có sức để thực hiện quyết định nên gia đình cần thận trọng quan sát. Nếu bệnh nhân có ý định tự tử thì nên gọi cho bác sĩ biết hoặc dẫn bệnh nhân đến phòng cấp cứu để gặp bác sĩ.

Bệnh chu kỳ vui buồn quá độ

Định Nghĩa: Bệnh này còn gọi là bệnh Tình cảm lưỡng cực (Bipolar disorder). Hiện nay khoa học chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh này. Bệnh này có thể do sự xáo trộn của màng tế bào thần kinh làm não bộ dễ bị kích động. Màng của tế bào thần kinh đóng vai trò rất quan trọng vì nó có chức năng điều hòa sự ra vào của chất Sodium và Calcium. Sự ra vào của những chất này tạo ra xung động thần kinh và giúp não bộ thực hiện chức năng của nó. Khi màng thần kinh mất sự điều hòa thì có thể tạo ra bệnh vui buồn quá độ hoặc bệnh kinh phong, tùy vào những vùng của não bộ bị xáo trộn. Bệnh Manic depression có tính cách di truyền; nếu cha hoặc mẹ bị bệnh thì xác suất ở người con là 25%.

Triệu chứng của bệnh này là có chu kỳ vui-buồn-vui hoặc buồn-vui-buồn. Trong lúc vui thái quá, bệnh nhân tin rằng mình là người phi thường vượt chúng, có nhiều năng lực, có thể làm chuyện không ai làm được, ngủ ít, suy nghĩ và nói nhiều, tăng hoạt động xã hội, xài tiền như nước, hoạt động sinh lý hỗn tạp, không phân biệt (sexual promiscuity), hay cau có và dễ bị phân tâm. Sau một thời gian có nhiều năng lực như vậy, bỗng nhiên bệnh nhân rơi vào tâm trạng buồn nản mệt mỏi như kể ở phần bệnh buồn nản. Chu kỳ vui-buồn đó nếu không trị sớm, bệnh nhân có thể bị điên loạn (psychotic), thí dụ như tin rằng mình là Chúa giáng thế xuống cứu rỗi trần gian.

Có những trường hợp bệnh nhân bị chứng bệnh này lần đầu tiên chỉ có tâm trang buồn nản xuất hiện trước mà chưa có tâm trạng vui quá độ. Khi uống thuốc trị trầm cảm thì trong người thấy rất khó chịu rồi sau đó mới xuất hiện triệu chứng vui quá độ (mania). Cho nên khi bệnh nhân có cảm giác bất thường nên thông báo cho bác sĩ biết.

Thí dụ:

Anh X là một sinh viên đại học, 25 tuổi, đã 3 ngày nay anh ta thức trắng đêm và tin rằng anh không cần ngủ. Anh ta cảm thấy sinh lực dồi dào mặc dù chỉ ăn có một bữa. Anh ta nghĩ ra nhiều đồ án mới cùng một lúc và viết ra trên cả chục tờ giấy. Anh tin rằng mình có thể thay đổi được sự nghèo đói trên thế giới và dự định sẽ họp mặt với tổng thống Bush trong ngày gần đây để giới thiệu đồ án của anh. Anh từng là người nhút nhát không dám nhìn thẳng mặt phụ nữ, bây giờ thì người đẹp nào anh cũng xáp lại nói chuyện và mời đi ăn. Anh xài hết tiền trong nhà băng trong vòng 2 ngày để mua sắm những vật không cần thiết và bao những cô gái ngủ với anh. Một tuần lễ sau, anh bỏ học vì tin rằng những giáo sư đại học không đủ trí khôn để dạy anh. Anh càng ngày càng nói nhiều và nói nhanh dến nỗii không ai hiểu được anh. Gia đình thấy không ổn nên dẫn anh tới bệnh viện.

Hiện tượng như trên, danh từ chuyên môn gọi là mania. Nếu không trị sớm mania sẽ dẫn đến buồn nản hoặc điên loạn (psychosis). Điên loạn gồm có ảo tưởng (tin mình là thánh nhân, tin mình có nhiều thần lực), ảo thính (nghe tiếng nói trong đầu) và ảo thị (nhìn thấy những vật không có thật).

Cách chữa trị:

Bệnh này chỉ có cách trị duy nhứt là dùng thuốc. Nếu bệnh nhân bị bệnh nặng không tin rằng mình có bệnh và từ chối uống thuốc thì cần phải bị bắt buộc nhập viện để điều trị.

Hiện nay có ba nhóm thuốc trị bệnh này: (1) Lithium, (2) nhóm thuốc trị kinh phong (Divalproex Sodium, Carbamazepine, Lamotrigine…) và (3) nhóm thuốc mới trị điên loạn (Olanzapine, Risperidone, Quetiapine, Aripripaxole..). Bệnh nhân uống Lithium thường phải thử máu vì khi nồng độ Lithium trong máu quá cao sẽ gây ra nhiều phản ứng phụ (ói mửa, đi đứng không vững), khi nồng độ quá thấp thì không trị dứt bệnh. Lithium và nhóm thuốc trị kinh phong thường làm tay chân bị run. Nhóm thuốc mới trị điên loạn (atypical antipsychotics) có khuynh hướng gây ra cao mỡ và cao đường trong máu.

Một số bệnh nhân sau khi cơn vui thoái quá được ổn định cần phải qua một thời gian ngắn tâm lý trị liệu để giải quyết những vấn đề ưu phiền xảy ra trong lúc bị bệnh (thí dụ như xung đột gia đình) để giúp bệnh nhân hoà nhập lại với gia đình và xã hội. Ngoài ra tâm lý trị liệu giúp bệnh nhân nhìn nhận những triệu chứng phát khởi của mania để ngăn chận kịp thời. Bệnh nhân có ý tưởng tự tử (thí dụ vì xấu hổ) cần phải qua tâm lý trị liệu để giải quyết những ưu sầu trong tâm hồn.

Tóm lại:

– Bệnh chu kỳ vui buồn quá độ (manic depressive disorder) là do sự mất điều hòa của não bộ và những hành động và suy nghĩ xảy ra ngoài ý muốn và sự kiềm chế của bệnh nhân.

– Bệnh này cần phải uống thuốc dài hạn, nếu không, thời gian tình cảm ổn định bình thường sẽ bị rút ngắn lại và chu kỳ vui-buồn sẽ xảy ra nhanh hơn và nặng hơn. Khi bệnh nặng, bệnh nhân có thể bị điên loạn.

– Nếu bệnh nhân có ý định tự tử sau cơn mania, cần nên nhập viện và phải được điều trị bằng tâm lý trị liệu song song với thuốc men.

Bệnh lo âu (Anxiety disorders)

Định nghĩa: Bệnh lo âu có 3 loại chính: (1) loại ám ảnh, (2) loại thần kinh căng thẳng và (3) loại sợ hãi. Bệnh này do thần kinh quá nhạy cảm tiết ra nhiều chất catecholamine.

Bệnh bao gồm những triệu chứng của cơ thể lẫn tâm lý. Triệu chứng của cơ thể là những dấu hiệu của sự lo sợ: tim đập mạnh, thở dồn dập, tay chân run rẩy, xuất mồ hôi hột… Triệu chứng tâm lý là có cảm giác như có chuyện gì ghê gớm sắp xảy ra. Ngoài ra bệnh nhân còn mất ngủ, lúc nào cũng ở tâm trạng đề phòng (hypervigilance), khó chú tâm vào một việc, và suy giảm ham muốn sinh lý.

1 – Bệnh ám ảnh (Obsessive compulsive disorder):

Bệnh nhân hay bị ám ảnh bởi một tư tưởng, thí dụ như sợ bị nhiễm trùng hoặc sợ bỏ quên lò điện bị cháy nhà chẳng hạn. Rồi sau đó bệnh nhân có những hành động lập đi lập lại, thí dụ như rửa tay cả trăm lần trong một ngày hay cứ nửa tiếng là đến xem lò điện có tắt chưa. Bệnh nhân không thích làm như vậy vì quá mất thời giờ nhưng nếu không có những hành động đó thì đâm ra căng thẳng, lo âu rất khó chịu. Họ làm như vậy để bớt cảm giác căng thẳng. Thí dụ: Cô T 20 tuổi, là một sinh viên giỏi đang học về ngành kế toán. Sau khi vào Đại học, ở ký túc xá cô sanh ra cái bệnh sợ dơ. Cô có cảm giác đồ đạc trong phòng đều bị nhiễm trùng dơ bẩn và dần dần sanh ra thói quen rửa tay cả chục lần trong ngày. Khi đụng chạm vật gì trong phòng mà không rửa tay, cô cảm thấy rất khó chịu và căng thẳng, đến khi rửa tay rồi thì sự khó chịu mới bớt. Trong lúc rửa tay, cô có thói quen rửa tay bằng xà phòng, xả nước, rửa lại như thế cả chục lần mới cảm thấy sạch sẽ. Kết quả học hành bị sa sút vì cô mất rất nhiều thời giờ để làm công việc rửa tay và suy nghĩ đến các loại bệnh nhiễm trùng. Mặc dù cô biết rửa tay nhiều như vậy ảnh hưởng đến việc học hành nhưng không thể nào rửa ít và nhanh hơn được.

2 – Bệnh căng thẳng tâm thần sau một biến cố (Post traumatic stress disorder)

Bệnh này gây ra bởi hoàn cảnh tạo ra xúc động mạnh (emotional shock), thí dụ như bị hiếp dâm, chứng kiến cảnh ghê rợn (tại nạn chết người, pháo kích, thuyền bị hải tặc cướp…). Bệnh nhân có thể có triệu chứng bệnh vài ngày sau cơn xúc động hoặc bệnh có thể ở dạng tiềm tàng và xuất hiện một thời gian thật lâu sau đó khi bệnh nhân trải qua một biến cố khác trong đời.

Bệnh này là một hội chứng có 3 nhóm triệu chứng tâm lý: (1) Triệu chứng cảm nhận trở lại (ám ảnh và ác mộng), (2) Triệu chứng trốn tránh (không thích đám đông, không dám trở lại nơi xảy ra tai nạn) và (3) Triệu chứng nhạy cảm quá độ (dễ cau có, không thích tiếng động ồn ào, không tự chủ được cơn giận). Nhiều bệnh nhân trở thành nghiện rượu và ma túy vì muốn quên những cảnh tượng hãi hùng đó trong cơn say. Nếu bệnh nặng, bệnh nhân có thể bị điên loạn và tự tư để tránh nổi căng thẳng tâm thần đó.

Thí dụ: Ông M. 35 tuổi là nạn nhân của một tai nạn giao thông. Ông may mắn sống sót nhưng người bạn thân ông bị chết trên vũng máu. Những ngày sau đó, hàng đêm khi nhắm mắt lại, cảnh tượng hãi hùng đó cứ hiện ra trong đầu ông. Khi vừa chợp mắt ngủ thì những cơn ác mộng bị té từ trên cao, bị rượt đuổi hay bị đụng xe xuất hiện làm ông la hét trong giấc ngủ và tỉnh dậy áo ướt đẫm mồ hôi. Tính tình ông hoàn toàn thay đổi. Từ một người dễ tính hòa nhã, ông hay gắt gỏng với người nhà và hay giật mình khi chuông điện thoại reo hoặc có ai gõ cửa. Ông không thích giao thiệp bạn bè, tránh những buổi hội họp có đám đông. Ông không thích đi ra ngoài đường và đánh một vòng xa hơn chớ không chịu đi qua nơi đã xảy ra tai nạn.

3 – Bệnh sợ hãi

Bệnh này có thể chia làm hai loại: loại có vật để sợ (phobia) và loại sợ vô cớ (generalized anxiety and panic disorders).

a – Bệnh phobia:

Có rất nhiều loại phobia. Loại thông thường nhứt là loại lo sợ nói chuyện giữa đám đông (performance anxiety), ngoài ra còn có loại lo sợ chỗ kín mít, không có lối ra, thí dụ như thang máy (claustrophobia), loại sợ thú vật (rắn, chuột…), loại sợ ở trên cao (lầu cao, đi máy bay…). Bệnh nhân làm mọi cách để tránh hoàn cảnh tạo ra sự lo sợ và không thể dùng hết khả năng mình trong nghề nghiệp. Thí dụ thương gia sợ đi máy bay, từ khước chức vụ cao hơn với tiền lương nhiều hơn nhưng đòi hỏi ông đi du lịch nhiều.

Thí dụ: Anh N, 18 tuổi, là một học sinh trung học xuất sắc, chỉ trừ lớp diễn thuyết là anh có điểm thấp nhứt. Khi dứng trước lớp học để trình bày một đề tài thì anh cảm thấy tim đập mạnh, anh ngộp thở nói không ra lời và rồi cảm thấy trong đầu trống rỗng. Bao nhiêu bài vở đã soạn trước bay đâu hết. Anh có cảm tưởng như mình trần truồng đứng giữa lớp để mọi người chế nhạo. Từ ngày đó, anh tìm mọi cách để cáo bệnh và tránh những cuộc nói chuyện giữa đám đông. Anh thà chịu điểm xấu còn hơn đứng chịu trận như vậy giữa đám đông. Ba má anh muốn anh làm luật sư vì anh có khiếu biện luận rất hay, anh cũng thích làm luật sư. Anh không biết phải xử sự làm sao vì căn bệnh này thật khó mà nói ra.

b – Bệnh lo âu vô cớ (Generalized anxiety disorder)

Bệnh nhân có thể là con nhà triệu phú sống trong một xã hội thanh bình mà vẫn bị lo âu. Bệnh này không có căn cứ ở bên ngoài. Bệnh nhân lúc nào cũng thấy căng thẳng, có cảm giác như có chuyện gì xấu sắp xảy ra mà họ không biết chính xác, ngủ không ngon giấc hay khó đi vào giấc ngủ vì đầu óc suy tính mọi chuyện. Bệnh nhân trở nên cau có, ít định tâm vào một chuyện. Bệnh nhân còn có thể sanh ra những triệu chứng về thể xác như những triệu chứng về đường tiêu hóa (tiêu chảy kinh niên, buồn nôn, nghẹn cuống họng), triệu chứng về hô hấp (khó thở, ngộp thở, thở ngắn hơi), triệu chứng về bắp thịt (bắp thịt co thắt, đau nhức). Bệnh nhân nam có nguy cơ bị nghiện rượu vì muốn giảm sự căng thẳng đó trong lúc say.

Thí dụ: Cô Y, 22 tuổi là một sinh viên đại học giỏi, sinh sống trong một gia đình giàu có, ba mẹ lúc nào cũng nuông chiều cô. Bây giờ cô đã tốt nghiệp đại học và dự định tìm sở làm. Sau khi tốt nghiệp, cô cảm thấy trong người thật căng thẳng và hay do dự. Tối trước khi ngủ, có hàng ngàn suy nghĩ chiếm lấn đầu cô. Mỗi sáng ngồi trước computer để làm đơn xin việc, cô cảm thấy chóng mặt, khó thở và đổ mồ hôi tay. Cô có cảm giác có chuyện gì không ổn sắp xảy ra. Cô nhớ lại cô đã có những cảm giác mang máng như vậy trước các kỳ thi nhưng mà chúng không có mạnh như hiện thời. Không có ai hối thúc cô phải tìm việc làm vì cha mẹ dư sức nuôi cô, với lại với điểm của cô thì cô có thể tìm việc dễ dàng.

c – Bệnh hoảng sợ bất thần (Panic disorder)

Một số đông bệnh nhân với bệnh này không được phát giác và trị đúng mức vì bệnh này có nhiều triệu chứng trùng hợp với các loại bệnh ở cơ thể, nhứt là bệnh tim, suyễn (asthma) và bệnh đau bao tử. Bệnh thường khởi sự khi không có nguyên nhân căng thẳng gì hết gì hết. Triệu chứng có thể là nặng ngực, khó thở, xuất mồ hôi, tim đập nhanh, người cảm thấy bị nóng hay lạnh bất thường, tay chân tê, bụng dạ bồn chồn, và chóng mặt. Ngoài ra bệnh nhân còn có cảm giác như sắp chết tới nơi, hoặc sợ mình bị điên, hay làm điều gì mà mình không tự chủ được. Đa số bệnh nhân đến khám bác sĩ gia đình trước và đôi khi không khai tâm trạng lo sợ mình cho bác sĩ biết. Bác sĩ cho thử nghiệm đủ thứ mà tìm không ra bệnh hoặc cho uống thuốc mà không hết bệnh. Bệnh nhân càng lo sợ vì nghĩ mình bị bệnh nan y, đi khám nhiều bác sĩ khác nhau.

Thí dụ: Ông N, 30 tuổi là một giáo sư trung học, với diều kiện sức khỏe tốt. Một hôm ông đang lái xe trên xa lộ bỗng cảm thấy tim đập nhanh và khó thở, mồ hôi đổ khắp người và tay chân lạnh tê. Ông cảm tưởng như sắp chết tới nơi. Ông lo sợ lái xe xuống exit. Những triệu chứng đó dần dần mất đi. Ông lái xe chậm về nhà và ngày sau đi khám bác sĩ. Bác sĩ nghi ông bị nghẽn mạch máu não (Transient Ischemic Attack), cho đo áp suất máu và thử nghiệm tim. Kết quả hoàn toàn bình thường. Bây giờ ông B đâm ra ngần ngại không dám lái xe trên xa lộ. Ông không có triệu chứng một thời gian. Một hôm đang đi dạo ở một thương xá, những triệu chứng trên lại tái phát. Ông nhờ vợ ông đưa đi cấp cứu.Trên đường đến nhà thương, những triệu chứng kia lại mất đi. Bác sĩ phòng cấp cứu cho thử nghiệm máu và tim, kết quả bình thường. Sau đó ông N lại sợ không dám đi shopping. Trường hợp như vậy xảy ra vài lần nữa dến nỗii ông N lo sợ không dám đi đâu xa hết. Ông đến phòng cấp cứu vài lần nữa, sau cùng các bác sĩ ở phòng cấp cứu nghi ông giả bệnh và nhờ bác sĩ tâm thần (psychiatrist) khám ông. Bác sĩ psychiatrist chẩn ông bị bệnh sợ hãi bất thần, cho thuốc và sau đó bệnh không tái phát nữa.

Cách trị liệu:

Có hai nhóm thuốc trị bệnh lo âu: (1) nhóm thuốc an thần thuộc nhóm Benzodiazepine (Alprazolam, Lorazepam, Clonazepam…) và (2) nhóm thuốc trị bệnh buồn nản, loại SSRI kể trên. Loại thuốc an thần, cũng là thuốc ngủ, có tác dụng tức thời nhưng có thể làm bệnh nhân nghiện thuốc và nếu uống một thời gian lâu mà ngưng thình lình thì sẽ bị phản ứng thiếu thuốc (withrawal symptoms), như thấy nhiều ác mộng, tay chân run rẩy, lo âu trở lại. Nếu dùng liều cao mà ngưng thình lình thì có thể bị kinh phong (seizure). Nếu giảm thuốc lần lần thì sẽ tránh được phản ứng thiếu thuốc. Ngoài ra thuốc còn làm phản xạ (reflex) chậm lại nên bệnh nhân không nên lái xe hoặc sử dụng máy móc lúc mới uống thuốc. Uống thuốc lâu ngày có thể làm giảm trí nhớ.

Loại thuốc trị buồn nản (Antidepressant) có thể dùng để trị lo âu vì chúng có tác dụng điều hòa chất Norepinephrine và Serotonin. Loại thuốc này phải cần 2 tới 3 tuần mới hiệu nghiệm nên thời gian 2-3 tuần đầu, bác sĩ hay cho loại thuốc an thần kèm với loại thuốc này. Sau đó bệnh nhân dần dần giảm thuốc an thần và chỉ uống thuốc an thần (thí dụ Alprazolam) lúc cần thiết, như lúc lên cơn hoảng sợ.

Đặc biệt bệnh lo sợ nói chuyện trước đám đông được trị bằng thuốc làm giảm áp huyết: Propranolol. Thuốc này ức chế phản ứng hồi hộp của cơ thể tạo sự thoải mái trước đám đông.

Tâm lý trị liệu (psychotherapy) rất cần thiết với loại bệnh lo âu. Bác sĩ dùng khoa tâm lý trị liệu để giúp bệnh nhân lên tinh thần và giải quyết những mâu thuẫn về nội tâm tạo nên sự lo âu. Bệnh ám ảnh cần phải phối hợp tâm lý trị liệu với thuốc men mới trị dứt được. Loại bệnh này rất khó trị. Đôi khi trị bớt chớ không dứt hẳn được. Bệnh phobia được trị bằng cách “desensitization”, tập bệnh nhân quen dần với vật mình sợ. Thí dụ như giai đoạn đầu nhìn bức hình của vật đó, sau đó sờ vào hình nộm của vật đó và sau cùng đối diện với vật đó.

Tóm lại:

– Những bệnh lo âu đều có thể trị được bằng thuốc. Cách trị hữu hiệu nhứt là phối hợp thuốc với tâm lý trị liệu.

– Bệnh này trị càng sớm càng tốt vì để lâu sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân, quan hệ gia đình và xã hội. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng về vấn đề tài chánh vì bệnh nhân không thể dùng hết khả năng mình vào công việc.

– Một số người bệnh lo âu tự trị mình bằng rượu hay xì ke ma túy và trở thành kẻ nghiện ngập. Họ dần dần phá vỡ hạnh phúc gia đình và sẽ đi đến mất sở làm.

– Khoa Tâm Thần Bệnh Học (Psychiatry) không phải chỉ dành riêng cho những kẻ bị điên nặng. Khoa này chữa trị những bệnh thông thường hàng ngày như phobia, lo âu, v.v. Bác sĩ gia đình lo về sức khỏe thân thể, thì bác sĩ tâm thần (psychiatrist) lo về sức khỏe tâm lý.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển:http://www.machsong.org.]

Bình Luận

comments