Download!Download Point responsive WP Theme for FREE!

NGỘ NHẬN TRONG TÂM LÝ HỌC: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TỘI PHẠM RẤT CÓ ÍCH TRONG VIỆC ĐIỀU TRA

Hơn 3 tuần trong tháng 10/2002, hầu hết người dân ở bang Virginia, Maryland và Washngton đều sợ ra khỏi nhà. 23 ngày đó dường như dài vô tận, 10 người vô tội bị giết và 4 người khác bị thương trong những vụ nổ sung giết người kinh hoàng. Những nạn nhân này bị bắn trong lúc cắt cỏ, đọc sách ngoài công viên, sau khi rời khỏi một cửa hang, đang đứng trong bãi đậu xe của một nhà hàng và một số người khác bị bắn khi đang đi trên đường hoặc trong lúc đổ xăng. Những vụ nổ sung giết người này hoàn toàn diễn ra ngẫu nhiên: Nạn nhân bao gồm cả người da trắng lẫn da đen, trẻ em lẫn người lớn, đàn ông lẫn phụ nữ. Sợ hãi và hoang mang, nhiều người dân sống ở vùng ven Washington không dám bước ra đường trừ trường hợp cực kì cần thiết, và hàng chục trường học đóng chặt cửa, cho học sinh nghỉ học.

Vì những vụ nổ sung giết người vẫn tiếp tục diễn ra mà không có dấu hiệu kết thúc, nhiều chuyên viên phân tích tội phạm đã tham gia vào việc phỏng đoán về nhân dạng của hung thủ. Những chuyên viên phân tích tội phạm là những người được đào tạo chuyên nghiệp, có thể tìm ra được những đặc điểm tính cách, hành vi, hoạt động của tội phạm dựa trên những chi tiết đặc biệt quan trọng của một hoặc nhiều vụ án mà chúng gây ra. Bằng cách đó, họ có thể giúp những điều tra viên tìm ra được hung thủ của nhiều vụ án. Chỉ riêng Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) không thôi cần đến sự trợ giúp của chuyên viên phân tích tội phạm trong gần 1000 vụ án mỗi năm.

Trong vụ nổ sung giết người hàng loạt trên, hầu hết những chuyên viên phân tích tội phạm được phỏng vấn bởi các phương tiện truyền thông đều tán thành một điều: Hung thủ có thể là người đàn ông da trắng. Một số chuyên viên phân tích tội phạm khác cho rằng hung thủ không có con cái, một số chuyên viên khác thì nói rằng hắn ta không phải là lính, vì một người lính sẽ sử dụng những loại đạn quân đội có tính chính xác cao chứ không phải những loại đạn bình thường được tìm thấy tại hiện trường. Còn một số chuyên viên khác nữa thì cho rằng hung thủ ngoài 20 tuổi, vì độ tuổi trung bình của những kẻ nổ sung giết người hàng loạt là 26.

Nhưng khi “hung thủ” thực sự bị bắt vào ngày 24-10-2002, hầu hết những chuyên viên phân tích tội phạm trên đều tỏ ra kinh ngạc, vì một nguyên nhân: “hung thủ” không phải là một người. Những vụ án mạng trên được thực hiện bởi một đội hung thủ gồm hai người đàn ông, John Muhammad và Lee Boyd Malvo. Còn gì nữa? Cả hai đều là người Mỹ gốc Phi, chứ không phải người da trắng. Khác với những gì một số chuyên viên phân tích tội phạm này dự đoán, Muhammad có bốn con và từng tham gia quân đội. Và cả hai đều không ở độ tuổi ngoài 20: Muhammad 41 tuổi, còn Malvo 17 tuổi.

Vụ án giết người hàng loạt trên cho tháy hai điểm chính. Thứ nhất, nó cho thấy thực tế rằng hoạt động phân tích tội phạm là phần không thể thiếu của xã hội hiện đại. Bộ phim giành giải thưởng của Viện Hàn lâm Điện ảnh Nghệ thuật khoa học Hoa Kỳ có tên Sự im lặng của bầy cừu (1991), trong đó diễn viên Jodie Foster vào vai một chuyên viên phân tích tội phạm thực tập của FBI, đã làm cho biết bao người Mỹ say mê. Ngoài ra còn có ít nhất 9 bộ phim khác, kể cả Kẻ bắt chước (1995) và Gothika (2003), cũng nói về những chuyên viên phân tích tội phạm với nhiều phát hiện ấn tượng. Một số phim truyền hình dài tập nổi tiếng như Chuyên viên phân tích tội phạm, Thiên niên kỷ, Ý nghĩ của tội phạm và CSI: Điều tra hiện trường vụ án, cũng đề cập đến vai trò quan trọng và nổi bật của những chuyên viên phân tích tội phạm. Ngày nay, những chuyên viên phân tích tội phạm như Pat Brown và Clint van Zandt xuất hiện khác phổ biến trong những chương trình truyền hình nói về hoạt động điều tra tội phạm, như chương trình có tên Lần theo hồ sơ của Fox News (do Greta van Susteren dẫn chương trình) và Nancy Grace của CNN. Những chương trình cũng như bộ phim này hiếm khi cho thấy sự hoài nghi về khả năng dự đoán của những chuyên viên phân tích tội phạm.

Sự phổ biến của phương pháp phân tích tội phạm trên các phương tiện truyền thông được phản ánh bởi nhận thức của nhiều chuyên gia sức khỏe cũng như những người thi hành pháp luật về hiệu quả của nó. Trong một cuộc khảo sát 92 chuyên gia tâm lý và tâm thần học có kiến thức về luật, 86% cho rằng phương pháp phân tích tội phạm “là một phương pháp hữu ích đối với luật pháp”, mặc dù chỉ có 27% tin rằng nó có đủ cơ sở khoa học để được sử dụng trong các vụ án. Trong một cuộc khảo sát 68 nhân viên cảnh sát ở Mỹ khác, 58% nói rằng phương pháp phân tích tội phạm rất có ích trong hoạt động điều tra tội phạm, và 38% nói rằng nó có ích trong việc tìm ra kẻ tình nghi.

Thứ hai, những phỏng đoán thiếu chính xác của nhiều chuyên viên phân tích tội phạm trong vụ án nói trên làm xuất hiện một câu hỏi quan trọng: Phương pháp phân tích tội phạm thật sự có hiệu quả không? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi cần giải thích rõ ý của chúng tôi khi dùng từ “hiệu quả” là gì. Nếu nói về việc “phương pháp phân tích tội phạm có dự đoán được đặc điểm của thủ phạm tốt hơn so với việc dự đoán theo kiểu may rủi không?”, thì câu trả lời sẽ là có. Nhiều cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng những chuyên viên phân tích chuyên nghiệp thường có thể đoán chính xác một vài đặc điểm của tội phạm (như họ là nam hay nữ, trẻ hay già) khi tìm hiểu những thông tin chi tiết về một số vụ án đặc biệt, như cưỡng bức và giết người. Trong những trường hợp ấy, phương pháp phân tích có hiệu quả tốt hơn so với phương pháp tung đồng tiền để dự đoán theo mặt sấp ngửa của nó.

Nhưng những kết quả này không phải lúc nào cũng chính xác. Đó có lẽ là vì những chuyên viên phân tích tội phạm chỉ dựa vào “thông tin cơ sở”, đó là những dữ liệu về đặc điểm của những tội phạm đã thực hiện một số vụ án nhất định nào đó, vốn luôn có sẵn để bất cứ ai quan tâm cũng có thể đưa ra lời dự đoán của mình. Ví dụ, khoảng 90% những kẻ giết người hàng loạt là nam, và 75% trong số chúng là người da trắng. Do đó, ngay cả một người không được đào tạo để phân tích tội phạm cũng có thể đoán rằng hung thủ gây ra những án mạng kinh hoàng có thể là một người đàn ông da trắng; một người sẽ có 2/3 cơ hội đoán đúng bằng cách chỉ dựa vào thông tin cơ sở. Ta có thể tìm thấy một vài thông tin cơ sở mà không cần phải tìm hiểu về các cuộc nghiên cứu chính thức. Ví dụ, ta không cần đến một chuyên viên phân tsch cũng có thể đoán được một người đàn ông giết chết vợ và ba con của mình một cách tàn bạo bằng cách đâm liên tiếp vào người họ là “có những vấn đề nghiêm trọng trong việc kiểm soát cơn giận của mình.”

Một cách kiểm tra khác để biết liệu phương pháp phân tích tội phạm có hiệu quả không là đưa những chuyên viên phân tích tội phạm ra đọ sức với người bình thường. Xét cho cùng đây là phương pháp đòi hỏi người thực hiện phải được đào tạo chuyên môn. Khi ta đưa phương pháp phân tích tội phạm vào cuộc thử nghiệm khắt khe này, thì kết quả hoàn toàn không gây ấn tượng mạnh như nhiều người thường nghĩ. Trong hầu hết những cuộc thử nghiệm, nhiều chuyên viên phân tích tội phạm cũng chẳng dự đoán về đặc điểm của hung thủ thật sự từ những chi tiết trong vụ án chính xác hơn so với những người không được đào tạo. Ít nhất trong một cuộc thử nghiệm, những chuyên viên phân tích tội phạm có kinh nghiệm và chuyên môn trong việc điều tra vụ án cũng như nhân viên cảnh sát lại có dự đoán thiếu chính xác về thủ phạm hơn so với những chuyên viên hóa học.

Một cuộc phân tích về bốn cuộc nghiên cứu được thực hiện nghiêm ngặt tiết lộ rằng những chuyên viên phân tích tội phạm có chuyên môn dự đoán về đặc điểm của hung thủ dựa trên thông tin có được từ vụ án chỉ chính xác hơn những người không có chuyên môn một ít.

Họ cũng không hề giỏi hơn hay thậm chí còn dở hơn những người không có chuyên môn một ít trong việc phán đoán:

  • Đặc điểm vật lý, bao gồm tuổi, giới tính, chủng tộc;
  • Đặc điểm suy nghĩ, bao gồm động cơ liên quan đến vụ án; và
  • Những đặc điểm cá nhân, bao gồm tình trạng hôn nhân và trình độ học vấn của hung thủ.

Ngay cả phát hiện cho thấy những chuyên viên phân tích phán đoán về đặc điểm toàn diện của hung thủ chính xác hơn so với những người không có chuyên môn một chút cũng khó thuyết phục, vì những chuyên viên có thể quen thuộc hoặc nắm vững thông tin cơ sở liên quan đến đặc điểm của tội phạm hơn so với người không có chuyên môn. Những người không có chuyên môn chỉ cần được đào tạo một chút về những thông tin cơ sở cũng như cách phân tích chúng có thể cũng dự đoán chính xác như các chuyên viên, dù các nhà nghiên cứu vẫn chưa kiểm nghiệm về khả năng này.

Nếu bằng chứng khoa học chứng minh cho hiệu quả của phương pháp phân tích tội phạm vẫn còn rất mờ nhạt, thì điều gì khiến nó phổ biến như thế? Có rất nhiều nguyên nhân có khả năng, nhưng ở đây, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào ba nguyên nhân.

Thứ nhất, các phương tiện truyền thông nói về những dự đoán chính xác của những chuyên viên phân tích tội phạm nhiều hơn so với những dự đoán thiếu chính xác của họ. Khuynh hướng này còn khó hiểu, vì những chuyên viên phân tích, giống như những cảnh sát siêu linh, cũng đưa ra vô số dự đoán về đặc điểm của tội phạm với hy vọng rằng ít nhất một số chúng sẽ chính xác, như một câu ngạn ngữ cổ đã nói: “Cứ ném nhiều bùn vào tường, rồi nó sẽ dính vào đấy một ít”. Ví dụ, một số chuyên viên phân tích tội phạm đã đoán đúng rằng những vụ án mạng trong tháng 10 được thực hiện bởi hai người. Nhưng ta không thể biết chắc những dự đoán này có phải chỉ là tình cờ đúng hay không.

Thứ hai, phương pháp mà các nhà tâm lý học gọi là “phương pháp tìm kiếm chuyên môn” có thể cũng có vai trò quan trọng ở đây. Theo phương pháp này, ta thường đặt niềm tin tưởng tuyệt đối vào những người tự coi mình là “chuyên gia”. Vì hầu hết những chuyên viên phân tích tội phạm đều khẳng định là mình có trình độ chuyên môn, nên ta thường thấy những dự đoán của họ có sức thuyết phục. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng cảnh sát thường coi những dự đoán của những chuyên viên mà họ coi là chuyên gia chính xác hơn sơ với những chuyên viên không được coi là chuyên gia.

Thứ ba, hiệu ứng P.T Barnum (khuynh hướng tin vào những mô tả chung chung, mơ hồ) cũng có thể góp phần giúp cho phương pháp phân tích tội phạm nổi tiếng. Hầu hết những chuyên viên phân tích tội phạm đều đưa ra những dự đoán quá mơ hồ đến nỗi ta không thể kiểm nghiệm được (như “Hung thủ có những vấn đề về sự tự tin”), quá chung chung đến nỗi chúng có thể đúng với gần như tất cả mọi người (“Hung thủ có những mâu thuẫn với gia đình mình”), hay dựa trên thông tin cơ sở của hầu hết mọi vụ án (“Hung thủ có thể đã bỏ xác nạn nhân vào hoặc gần chỗ có nước”). Vì mọi người rất khó có thể chứng minh được những mô tả trên là đúng hay sai dù hung thủ thật sự là ai đi nữa, nên những chuyên viên phân tích tội phạm có vẻ như có khả năng dự đoán phi thường. Liên quan đến khả năng này, kết quả một cuộc nghiên cứu cho thấy nhân viên cảnh sát thừa nhận rằng phương pháp phân tích theo kiểu “Barnum” này có chứa những mô tả mơ hồ (như “Hung thủ là người chưa chín chắn so với tuổi của mình” và “Hung thủ … là điển hình của trường hợp muốn trốn thoát một cuộc sống tẻ nhạt, vô vị”) để chúng đúng với gần như tất cả mọi hung thủ.

Cũng giống như P.T.Barnum từng nói, ông muốn tạo ra “một điều gì đó cho tất cả mọi người”, nhiều chuyên viên phân tích tội phạm dường như cũng muốn đưa ra nhiều lời dự đoán chung chung, mơ hồ để khiến cho các nhân viên cảnh sát và điều tra cảm thấy hài lòng và bị thuyết phục. Nhưng những chuyên viên này có giỏi hơn người bình thường trong việc tìm ra thủ phạm không? Ít ra là ở thời điểm này, câu trả lời là “Không”.

 

Trích từ cuốn sách “50 ngộ nhận phổ biến của Tâm lý học phổ thông”. Tác giả: Scott O.Lilienfeld, Steven Jay Lynn, John Ruscio. Người dịch: Nguyễn Hoàng

 

image

Bình Luận

comments