Download!Download Point responsive WP Theme for FREE!

FREUD-BÃO TỐ CUỘC ĐỜI hay TÔI SUỐT ĐỜI Ở PHE ĐỐI KHÁNG (P.3)

Freud (1856-1939) sinh ra tại thành phố nhỏ Freiberg (trước thuộc Áo, nay là Tiệp). Cả bố và mẹ Shlomo Freud (tên thật cậu bé như vậy) là người Do Thái gốc Đức, khá đông con vì mẹ cậu là vợ hai, tuổi thơ trôi qua ở Freiberg, Leipzig rồi Wien ở những khu phố nghèo, tuy vậy mẹ cậu sớm phát hiện ra khả năng học hành xuất sắc của cậu nên chăm lo đặc biệt cho sự học của cậu. Cậu được học bằng đèn dầu trong phòng riêng, trong khi anh chị em phải học bằng nến và cấm học nhạc để cậu khỏi bị ồn, và cậu luôn đứng đầu lớp, tốt nghiệp phổ thông xuất sắc cũng như không bao giờ nghĩ mình sẽ thành bác sỹ. 

Hết trung học, vì gia cảnh cũng như gốc gác Do Thái không cho phép cậu chọn lựa nhiều ngành nghề, một hôm cậu được nghe thầy giáo đọc bài thơ “Thiên nhiên” của Gớt rất hay, thế là cậu ghi danh vào khoa Y. Từ đó về sau trong nghề y Freud coi mình là “ngoại đạo”, chưa bao giờ cảm thấy đó là việc của mình, tuy nhiên đúng như cơ duyên đã mách bảo, nghề y mang lại cho ông tất cả và giải thưởng lớn duy nhất trong đời lại mang tên Gớt.

Tại khoa Y cậu thanh niên Do Thái này suốt ngày bị bạn đồng môn trêu ghẹo, nhưng cậu rất kiên cường bảo vệ các nguyên tắc của mình, sau này nhớ lại Freud nói: “Tôi suốt đời đã ở phe đối kháng và chống lại mọi sự cấm đoán của đa số”. Trong đầu óc của cậu sinh viên này đã có những mầm mống của suy nghĩ độc lập, không rập khuôn.

Học rất nhiều môn và đều xuất sắc nhưng Freud xin ở lại làm việc tại phòng thí nghiệm của Enst Brucke-người thầy có ảnh hưởng lớn nhất lên cậu. Nhưng cuối cùng tiến sỹ Freud cũng không đủ tiền để theo đuổi việc làm khoa học, và người thầy đã phải ngậm ngùi khuyên Freud ra làm bác sỹ mới đủ trang trải cuộc sống, rồi còn lấy vợ. Chính vì không đủ tiền mở phòng khám tư nên Freud từ 1881 làm việc ở rất nhiều vị trí khác nhau trong đủ loại bệnh viện, điều đó cho ông rất nhiều kinh nghiệm đáng quý trong chữa trị và nghiên cứu các bệnh tâm thần, phụ khoa, rối loạn tâm lý, trầm cảm…và ông đã tìm ra liên hệ giữa bệnh lậu và tâm thần. Chưa bao giờ cậu làm việc quên mình như vậy, Freud muốn tìm thấy niềm vui trong công việc, nhưng chính áp lực thành công trong khoa học làm Freud thường xuyên trong tình trạng trầm cảm và buồn bã…

Năm “định mệnh” 1884, Freud đọc được về các thí nghiệm của một bác sỹ quân y Đức với loại thuốc mới-cocain, thấy viết rằng nó nâng cao sức chịu đựng, giảm bớt mệt mỏi. Freud rất quan tâm và lập tức kiếm bằng được một ít cocain rồi làm hàng loạt thí nghiệm với bản thân. Ông có người bạn đau đầu kinh niên, lại bị nghiện morphine nữa, nên thuyết phục ông bạn để mình điều trị bằng cocain, cuối cùng ông bạn bệnh nặng thêm, bị ảo giác liên miên, lại thêm bị nghiện cocain nữa. Tuy vậy ông không nản chí, mà tiếp tục thí nghiệm, viết bài, viết sách quảng bá về việc nên dùng cocain chữa bệnh…Đến 1887 thì khoa học thế giới mới công nhận cocain là “một hiểm họa của nhân loại”, thì lúc đó Freud đã tuyên truyền làm cho hàng loạt người quen dùng thử cocain rồi. Ông bị đồng nghiệp chê cười, lên án, bản thân cũng bị nghiện cocain đến mức cũng suốt ngày đau đầu, chảy máu mũi, đau tim cho đến 1890 mới đỡ-đây là quãng thời gian “tê tái” nhất đối với Freud (mà các nhà viết tiểu sử ông thường tránh nói đến-ông trở nên “phần tử nguy hiểm cho xã hội”). Sau này vẫn có những kẻ lấy “quá khứ cocain” của ông ra phản bác học thuyết mới của ông…

Ông nhận được học bổng và chuyển sang vừa học vừa làm ở Paris năm 1885, chính ở đây ông nghiên cứu nhiều về bệnh động kinh, tâm thần…và sau đó làm cùng với người bạn Breier để dùng thôi miên chữa chạy cho bệnh nhân rối loạn về tâm lý. Nhưng khi Freud áp dụng phương pháp điều trị khác-để cho bệnh nhân tâm lý hoàn toàn tự do thích nói gì thì nói (đúng như bây giờ đang chữa trị), không dùng đến thôi miên (rất thịnh hành hồi đó) và nhất là đề cao giá trị của các hồi tưởng liên quan đến tình dục (sex) trong bệnh động kinh thì tình bạn này chấm dứt vì bất đồng quan điểm. Chính việc để cho bệnh nhân tâm lý tự nói, tự thích gì kể nấy đã đặt nền móng cho lý thuyết Phân tâm học của Freud sau này. 

“Diễn giải những giấc mơ” (Die Traumdeutung)-là tác phẩm 1890 ưng ý nhất trong cả cuộc đời của Freud. Được viết 3 năm trời dưới sự ảnh hưởng ngẫu nhiên của cuốn sách ít tên tuổi “nghệ thuật sau ba ngày trở thành nhà văn độc đáo”, Freud coi đây là khoảnh khắc may mắn chỉ đển một lần trong cuộc đời, mà ông đã nắm bắt được! (Quyển sách này khuyên ai muốn thành nhà văn thì cứ phải nghĩ gì viết hết ra- còn sau đó ông cũng cho bệnh nhân tâm lý của mình nói bất cứ cái gì họ thích với ông-việc này trước đó chưa hề ai làm cả!).

Theo ông mỗi giấc mơ mang 2 nội dung. Nội dung dễ thấy: đó là cái gì con người “thấy được” (và có thể nhớ lại, kể lại được). Nội dung ẩn: là việc thực hiện bằng ảo giác một mong muốn thầm kín nào đó của người đang ngủ mơ, mong muốn đó được thể hiện qua những hình ảnh nào đó cụ thể với “cái Tôi” rất tích cực muốn vượt qua “cái Siêu Tôi” đang cản nó lại. Diễn giải những giấc mơ-đó là trên cơ sở những liên tưởng bất kỳ ở những phần khác nhau của giấc mơ có thể thấy được nội dung ẩn của giấc mơ. Đó là bản dịch “giấc mơ thấy được” thành “những ý nghĩ thầm kín”-phải tìm được ngụ ý chung nhất của cả giấc mơ! (sao giống nhà mình đánh “đề” thế không biết, mơ thấy cái gì phải nhớ lại rồi suy ra con số cụ thể nào đấy khác…).

Quyển sách này từ đầu ít được đón nhận, thậm chí không nổi tiếng bằng những tác phẩm trước đó của ông, nhưng những chuyên gia trong ngành thì dần dần đánh giá được vai trò “cách mạng” của nó, và từng bước Freud có được khá nhiều người đồng chí hướng cũng như học trò, thuyết Phân tâm học dần dần trở nên nổi tiếng và thông dụng. Nhưng đến 1910 khi Freud chủ trì lập ra Hiệp hội phân tâm học quốc tế, thì bắt đầu xuất hiện rất nhiều học thuyết phản bác lại, và đa số là những người gần gũi nhất đối với Freud: Adler, Jung…! Ông còn lập ra Hội đồng các nhà phân tâm học, hoạt động kín đáo (!?) nhưng rồi chiến tranh thế giới lần 1 nổ ra…

Trước đó dù rất nổi tiếng trong giới, Freud vẫn không khá giả vì quá đắm mình vào nghiên cứu, cũng như gia đình đông con cái (6 đứa). Ông cũng như nhiều nhà hoạt động Do Thái nổi tiếng khác, khi phong trào kỳ thị Do Thái bắt đầu loang ra từ Đức, đều dũng cảm nhận mình là người Do Thái để tỏ lòng đoàn kết với tất cả người Do Thái ở châu Âu! Ông say sưa viết sách, tổng cộng ông viết 24 tập sách về phân tâm học và về y học nói chung, tuy vậy nghèo vẫn hoàn nghèo! Từ 1923 ông còn bị thêm ung thư vòm họng (do nghiện xì gà đã lâu), sau này phải mổ đến 32 lần, mất cả hàm phải để hàm giả và từ đó nói không ai nghe được, con gái Anna của ông phải thay ông đi đọc báo cáo (do ông viết sẵn) ở các hội thảo và giúp ông viết một số công trình. Vợ chết rồi con chết vì bệnh, thậm chí nhiều đứa cháu cũng chết, tuổi già ông càng cực khổ, chỉ có con gái Anna chăm sóc ông…

Năm 1930 sau khi nhận giải Gớt (làm cho phân tâm học rất rạng danh) thì mẹ ông mất, rồi 1933 Hitler nắm chính quyền, tất cả các sách báo của tác giả Do Thái bị tịch thu và tiêu hủy: của Freud, Marx, Einstein, Kapka, Haine, Mann…Ông mỉa mai: “chúng ta đang rất tiến bộ! Nếu ở thời trung cổ thì họ đã thiêu sống tôi rồi, nhưng ngày nay họ chỉ đốt sách của tôi thôi…”. Hiệp hội bị giải tán, quỹ bị tịch thu, nhiều hội viên bị đàn áp, tuy vậy khi bạn bè đồng nghiệp khuyên ông đi nước ngoài thì ông kiên quyết cự tuyệt!

Nhưng đến 1938 ông đã rất mệt, mà khi đó Đức và Áo sáp nhập, ngưòi Do Thái bị áp bức rất dã man, con gái Anna của ông bị Gestapo bắt và tra khảo, thì ông đành quyết định ra đi. Nhưng để ra đi lúc này ông đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của bạn bè rất thế lực: đại sứ Mỹ tại Pháp đã xin Franklin Roosevelt giúp đỡ ông, rồi đại sứ Đức tại Pháp xin cho ông, rồi Mary Bonaparte-công chúa Đan Mạch và Hy Lạp trả cho chính phủ Đức một khoản tiền thế chân khá lớn, lúc đó ông mới có quyền sang Anh.

Hè năm 1939 ông bị đau nặng, và ông bắt bác sỹ chăm sóc ông thực hiện lời hứa đã hứa với ông là để ông ra đi cho nhanh và đỡ đau đớn. Lúc đầu con gái Anna không đồng ý, nhưng cuối cùng bà đã để cho ông uống morphine liều cao, 23/9/1939, cách đây đúng 75 năm.

Thi hài của ông được hỏa thiêu, tro đựng trong bình cổ đại do Mary Bonaparte tặng và đặt trong lăng Ernest George Mausoleum. Vào đúng đêm giao thừa năm nay 2014 có kẻ lạ mặt đã lọt vào lăng và đập tan cái bình cổ đó, nguyên nhân đang được cảnh sát London điều tra nhưng chưa có kết quả. Hiện nay hài cốt của ông và bà vợ để chung vào một bình và cất ở một nơi an toàn. Lý thuyết phân tâm học đến nay vẫn có rất nhiều người ủng hộ, triển khai, cải tiến về lý thuyết và thực hành; cũng như rất nhiều kẻ sau cả thế kỷ vẫn phản đối, ghen ghét với ông và không cho ông được yên nghỉ…

Cho đến nay hàng năm sách viết về ông xuất bản vẫn nhiều hơn bất kỳ nhà phân tâm học nào khác. Thậm chí có nhiều ý kiến bảo rằng những người kế tục học thuyết phân tâm học của ông “lũng đoạn” ở nhiều quốc gia, đè nén các trường phái khác, dù đó chỉ là “giả khoa học”! Ở Việt Nam quyển sách dịch đầu tiên của ông là vào năm 1943, rồi bẵng đi rất lâu mới có bác sỹ Nguyễn Khắc Viện viết về tâm lý trẻ em theo học thuyết của Freud năm 1991.

Nam Nguyen

Nguồn: https://www.facebook.com/namhhn/posts/750770348318238

Bình Luận

comments